Giải thích điều kiện: $$\log_a b = x \iff a^x = b$$

🌍 1. NGUỒN GỐC LỊCH SỬ: VÌ SAO LÔGARIT RA ĐỜI?

Vào thế kỷ 17, các nhà thiên văn học và hàng hải phải đối mặt với một nỗi ác mộng: họ phải thực hiện những phép tính nhân, chia các con số khổng lồ (lên tới hàng chục chữ số) để đo đạc khoảng cách giữa các vì sao. Việc này tốn hàng tháng trời và rất dễ sai sót.

Để giải cứu nhân loại, nhà toán học John Napier đã phát minh ra Lôgarit với một triết lý thần kỳ: Biến phép nhân thành phép cộng, biến phép chia thành phép trừ để tính toán nhanh hơn. Về sau, Lôgarit được định nghĩa chặt chẽ lại dựa trên mối quan hệ “ngược” với phép toán Lũy thừa:

$$\log_a b = x \iff a^x = b$$

🔍 2. Ý NGHĨA CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN (VÌ SAO LẠI CÓ LUẬT NÀY?)

Từ chiếc “chìa khóa vàng” $a^x = b$ ở trên, ta sẽ giải mã được tại sao các nhà toán học lại đặt ra luật lệ nghiêm ngặt cho cơ số $a$ và biểu thức $b$:

🔹 Điều kiện 1: Tại sao biểu thức dưới dấu log phải dương ($b > 0$)?

  • Giải thích: Nhìn vào công thức gốc $a^x = b$. Khi chúng ta chọn một cơ số $a$ là số dương, thì dù ta có nâng lên số mũ $x$ âm, dương hay bằng 0 đi chăng nữa, kết quả của lũy thừa $a^x$ luôn luôn là một số dương.
  • Ví dụ: $2^3 = 8$, $2^0 = 1$, và thậm chí số mũ âm $2^{-3} = \frac{1}{8}$ thì kết quả vẫn lớn hơn 0. Không có cách nào khiến một số dương tự nhân chính nó mà ra số âm hoặc số 0 được. Vì $a^x$ luôn dương, nên hiển nhiên $b$ phải dương ($b > 0$).

🔹 Điều kiện 2: Tại sao cơ số phải dương ($a > 0$)?

  • Giải thích: Nếu ta cho phép cơ số $a$ âm (ví dụ $a = -2$), phép toán lũy thừa $(-2)^x$ sẽ bị lỗi ngay lập tức khi số mũ $x$ là một phân số.
  • Ví dụ: Với $x = \frac{1}{2}$, ta có $(-2)^{\frac{1}{2}} = \sqrt{-2}$. Đây là một số vô nghĩa trong tập số thực! Để đảm bảo hàm số lôgarit luôn hoạt động mượt mà và liên tục với mọi số thực $x$, người ta phải cấm cơ số âm.

🔹 Điều kiện 3: Tại sao cơ số phải khác 1 ($a \neq 1$)?

  • Giải thích: Hãy tưởng tượng nếu cho $a = 1$, ta sẽ có phương trình $1^x = b$.
    • Nếu ta tính $\log_1 5 = x \iff 1^x = 5$ ➜ Điều này là vô lý (không có số $x$ nào biến 1 thành 5 được).
    • Nếu ta tính $\log_1 1 = x \iff 1^x = 1$ ➜ Điều này lại đúng với vô số số $x$ (vì 1 mũ mấy cũng bằng 1).
  • Vì cơ số 1 vừa gây ra vô lý, vừa gây ra vô định, nên nó hoàn toàn vô dụng trong toán học. Do đó ta phải loại bỏ nó ($a \neq 1$).

Vận dụng. Trang 115 – SGK Toán 11

Cho tam giác $OAB$ vuông tại $O$ với $A(a; 0)$ và $B(0; 1)$ như Hình 5.5 ($a > 0$). Đường cao $OH$ có độ dài là $h$.

a) Tính $h$ theo $a$.

b) Khi điểm $A$ dịch chuyển về $O$, điểm $H$ thay đổi thế nào? Tại sao?

c) Khi $A$ dịch chuyển ra vô cực theo chiều dương của trục $Ox$, điểm $H$ thay đổi thế nào? Tại sao?

Giải

a) Tính $h$ theo $a$

Ta có $OA = |a| = a$ (vì $a > 0$) và $OB = 1$.

Áp dụng hệ thức lượng trong tam giác vuông $OAB$:

$$\frac{1}{h^2} = \frac{1}{a^2} + \frac{1}{1^2} = \frac{1 + a^2}{a^2}$$

$$\implies h^2 = \frac{a^2}{a^2 + 1} \implies h = \frac{a}{\sqrt{a^2 + 1}}$$

b) Khi điểm $A$ dịch chuyển về $O$

Khi $A$ dịch chuyển về $O$, tức là $a \to 0^+$.

Ta có:

$$\lim_{a \to 0^+} h = \lim_{a \to 0^+} \frac{a}{\sqrt{a^2 + 1}} = \frac{0}{\sqrt{0^2 + 1}} = 0$$

Giải thích:

Khi $a$ càng nhỏ, cạnh $OA$ càng ngắn lại, làm cho đường cao $OH$ cũng ngắn dần về $0$. Khi đó, điểm $H$ sẽ dịch chuyển dần về gốc tọa độ $O$.

c) Khi $A$ dịch chuyển ra vô cực ($a \to +\infty$)

Ta cần tính giới hạn của $h$ khi $a$ tiến ra vô cực:

$$\lim_{a \to +\infty} h = \lim_{a \to +\infty} \frac{a}{\sqrt{a^2 + 1}}$$

Chia cả tử và mẫu cho $a$ (với $a > 0$):

$$\lim_{a \to +\infty} \frac{1}{\sqrt{1 + \frac{1}{a^2}}} = \frac{1}{\sqrt{1 + 0}} = 1$$

Giải thích:

  • Về độ dài: $h$ tiến dần về $1$ (chính bằng độ dài $OB$).
  • Về vị trí: Khi $A$ ở rất xa, cạnh huyền $AB$ gần như nằm ngang và trùng với trục $Ox$. Khi đó, đường cao $OH$ hạ từ $O$ xuống $AB$ sẽ gần như thẳng đứng và trùng với trục $Oy$. Do đó, điểm $H$ sẽ dịch chuyển dần về điểm $B(0; 1)$.

Chứng minh: $\lim_{x \to \pm\infty} \frac{1}{x^k} = 0$ (với $k \in \mathbb{Z}^+$)

Chứng minh: $\lim_{x \to \pm\infty} \frac{1}{x^k} = 0$ (với $k \in \mathbb{Z}^+$)

Giải

Tiêu chuẩn Weierstrass

Hàm số $f(x)$ có giới hạn là $L$ khi $x \to +\infty$ nếu:

Với mọi số thực $\epsilon > 0$ bé tùy ý, luôn tồn tại một số thực $M > 0$ sao cho:

$$\forall x > M \implies |f(x) – L| < \epsilon$$

Chứng minh cụ thể cho $f(x) = \frac{1}{x^k}$ với $L = 0$

Ta cần tìm một số $M$ (phụ thuộc vào $\epsilon$) sao cho hễ $x > M$ thì $|\frac{1}{x^k} – 0| < \epsilon$.

Phân tích biểu thức

Ta muốn có:

$$|\frac{1}{x^k}| < \epsilon$$

Vì ta đang xét $x \to +\infty$, có thể giả sử $x > 0$. Khi đó biểu thức tương đương với:

$$\frac{1}{x^k} < \epsilon$$

$$\iff x^k > \frac{1}{\epsilon}$$

$$\iff x > \sqrt[k]{\frac{1}{\epsilon}}$$

Chọn số $M$

Dựa vào phân tích trên, với mỗi số $\epsilon > 0$ cho trước, ta chọn:

$$M = \sqrt[k]{\frac{1}{\epsilon}}$$

Kết luận

Với mọi $x > M$, ta có:

$$x > \sqrt[k]{\frac{1}{\epsilon}} \implies x^k > \frac{1}{\epsilon} \implies \frac{1}{x^k} < \epsilon$$

Điều này chứng tỏ rằng $|f(x) – 0| < \epsilon$ luôn đúng khi $x > M$.

Vậy, theo tiêu chuẩn Weierstrass, ta đã chứng minh được:

$\lim_{x \to +\infty} \frac{1}{x^k} = 0$

Chứng minh: $\lim_{x \to \pm\infty} c = c$

Chứng minh định lý về hằng số:

$\lim_{x \to \pm\infty} c = c$

Giải

Xét một dãy số $(x_n)$ bất kỳ sao cho $x_n \to +\infty$ (hoặc $-\infty$).

Xét hàm số hằng $f(x) = c$. Điều này có nghĩa là với mọi giá trị của $x$, kết quả luôn luôn là $c$.

Khi đó, dãy giá trị tương ứng là $f(x_n) = c, c, c, \dots$ (một dãy số hằng).

Theo lý thuyết giới hạn của dãy số, giới hạn của một dãy hằng số chính là hằng số đó: $\lim_{n \to +\infty} f(x_n) = c$.

Kết luận:

Vì kết quả đúng với mọi dãy $(x_n)$, nên theo định nghĩa: $\lim_{x \to \pm\infty} c = c$.

Chứng minh Giới hạn của Căn thức $\lim_{x \to x_0} \sqrt{f(x)} = \sqrt{L}$

Nếu $f(x) \geq 0$ và $\lim_{x \to x_0} f(x) = L > 0$, chứng minh $\lim_{x \to x_0} \sqrt{f(x)} = \sqrt{L}$.

Giải

Ta xét hiệu: $|\sqrt{f(x)} – \sqrt{L}| = \left| \frac{(\sqrt{f(x)} – \sqrt{L})(\sqrt{f(x)} + \sqrt{L})}{\sqrt{f(x)} + \sqrt{L}} \right| = \frac{|f(x) – L|}{\sqrt{f(x)} + \sqrt{L}}$

Vì $f(x) \geq 0$ và $\sqrt{L} > 0$, ta có mẫu số $\sqrt{f(x)} + \sqrt{L} \geq \sqrt{L}$.

Do đó: $|\sqrt{f(x)} – \sqrt{L}| \leq \frac{|f(x) – L|}{\sqrt{L}}$

Với mọi $\epsilon > 0$, vì $\lim f(x) = L$, tồn tại $\delta > 0$ sao cho $|f(x) – L| < \epsilon \cdot \sqrt{L}$.

Khi đó: $|\sqrt{f(x)} – \sqrt{L}| < \frac{\epsilon \cdot \sqrt{L}}{\sqrt{L}} = \epsilon$.

Vậy $\lim_{x \to x_0} \sqrt{f(x)} = \sqrt{L}$.

Chứng minh Giới hạn của Thương $\lim_{x \to x_0} \frac{f(x)}{g(x)} = \frac{L}{M}$

Nếu $\lim_{x \to x_0} f(x) = L$ và $\lim_{x \to x_0} g(x) = M$;

Chứng minh $\lim_{x \to x_0} \frac{f(x)}{g(x)} = \frac{L}{M}$ (với $M \neq 0$).

Giải

Chứng minh:

$\lim_{x \to x_0} \frac{1}{g(x)} = \frac{1}{M}$

Xét hiệu:

$\left| \frac{1}{g(x)} – \frac{1}{M} \right| = \frac{|M – g(x)|}{|g(x)| \cdot |M|} = \frac{|g(x) – M|}{|g(x)| \cdot |M|}$

Chặn mẫu số:

Vì $\lim g(x) = M \neq 0$, chọn $\epsilon_0 = \frac{|M|}{2} > 0$. Tồn tại $\delta_1 > 0$ sao cho khi $0 < |x – x_0| < \delta_1$ thì $|g(x) – M| < \frac{|M|}{2}$.

  • Suy ra: $|g(x)| > |M| – \frac{|M|}{2} = \frac{|M|}{2}$.
  • Khi đó: $\frac{1}{|g(x)|} < \frac{2}{|M|}$.

Kiểm soát tử số:

Với $\epsilon > 0$ bất kỳ, tồn tại $\delta_2 > 0$ sao cho khi $0 < |x – x_0| < \delta_2$ thì $|g(x) – M| < \frac{\epsilon \cdot M^2}{2}$.

Chọn $\delta = \min(\delta_1, \delta_2)$. Khi đó:

$$\left| \frac{1}{g(x)} – \frac{1}{M} \right| = \frac{|g(x) – M|}{|g(x)| \cdot |M|} < \frac{|g(x) – M|}{\frac{|M|}{2} \cdot |M|} = \frac{2 \cdot |g(x) – M|}{M^2}$$

Ta có: $\frac{2}{M^2} \cdot \frac{\epsilon \cdot M^2}{2} = \epsilon$.

Sau khi có $\lim \frac{1}{g(x)} = \frac{1}{M}$, ta áp dụng định lý tích:

$$\lim \frac{f(x)}{g(x)} = \lim \left( f(x) \cdot \frac{1}{g(x)} \right) = L \cdot \frac{1}{M} = \frac{L}{M}$$

Chứng minh Giới hạn của Tích $\lim_{x \to x_0} [f(x) \cdot g(x)] = L \cdot M$

Nếu $\lim_{x \to x_0} f(x) = L$ và $\lim_{x \to x_0} g(x) = M$;

Chứng minh $\lim_{x \to x_0} [f(x) \cdot g(x)] = L \cdot M$.

Giải

Ta cần chứng minh:

Với mọi $\epsilon > 0$, tồn tại $\delta > 0$ sao cho nếu $0 < |x – x_0| < \delta$ thì $|f(x)g(x) – LM| < \epsilon$.

Sử dụng kỹ thuật thêm bớt hạng tử trung gian $f(x)M$:

$$|f(x)g(x) – LM| = |f(x)g(x) – f(x)M + f(x)M – LM|$$

Áp dụng bất đẳng thức tam giác $|A + B| \leq |A| + |B|$:

$$|f(x)g(x) – LM| \leq |f(x)| \cdot |g(x) – M| + |M| \cdot |f(x) – L| \quad (*)$$

Chặn hàm số $f(x)$

Vì $\lim_{x \to x_0} f(x) = L$, nên với sai số $\epsilon_1 = 1$, luôn tồn tại $\delta_1 > 0$ sao cho khi $0 < |x – x_0| < \delta_1$ thì:

$$|f(x) – L| < 1 \implies |f(x)| < |L| + 1$$

Đặt $K = \max(|L| + 1, |M|)$. Khi đó, $|f(x)|$ và $|M|$ đều bị chặn bởi $K$.

Kiểm soát các sai số thành phần

Với mọi $\epsilon > 0$ cho trước, ta chọn:

  • $\delta_2 > 0$ sao cho nếu $0 < |x – x_0| < \delta_2$ thì $|f(x) – L| < \frac{\epsilon}{2K}$.
  • $\delta_3 > 0$ sao cho nếu $0 < |x – x_0| < \delta_3$ thì $|g(x) – M| < \frac{\epsilon}{2K}$.

Tổng hợp kết quả

Chọn $\delta = \min(\delta_1, \delta_2, \delta_3)$. Khi đó, với mọi $x$ thỏa mãn $0 < |x – x_0| < \delta$, thay vào biểu thức $(*)$ ta có:

$$|f(x)g(x) – LM| \leq |f(x)| \cdot |g(x) – M| + |M| \cdot |f(x) – L|$$

$$< K \cdot \frac{\epsilon}{2K} + K \cdot \frac{\epsilon}{2K}$$

$$= \frac{\epsilon}{2} + \frac{\epsilon}{2} = \epsilon$$


Kết luận

Vậy theo định nghĩa Weierstrass, ta có:

$$\lim_{x \to x_0} [f(x) \cdot g(x)] = L \cdot M$$

Chứng minh Giới hạn của Hiệu $\lim_{x \to x_0} [f(x) – g(x)] = L – M$

Bài toán: Nếu $\lim_{x \to x_0} f(x) = L$ và $\lim_{x \to x_0} g(x) = M$, chứng minh $\lim_{x \to x_0} [f(x) – g(x)] = L – M$.

Giải

Cho trước $\epsilon > 0$. Ta cần tìm $\delta > 0$ sao cho nếu $0 < |x – x_0| < \delta$ thì $|(f(x) – g(x)) – (L – M)| < \epsilon$.

Ta có: $|(f(x) – g(x)) – (L – M)| = |(f(x) – L) – (g(x) – M)|$.

Áp dụng bất đẳng thức tam giác $|A – B| \leq |A| + |B|$:

$$|(f(x) – L) – (g(x) – M)| \leq |f(x) – L| + |g(x) – M|$$

Vì $\lim f(x) = L$ và $\lim g(x) = M$, nên với $\frac{\epsilon}{2} > 0$:

  • Tồn tại $\delta_1 > 0$ để $|f(x) – L| < \frac{\epsilon}{2}$ khi $0 < |x – x_0| < \delta_1$.
  • Tồn tại $\delta_2 > 0$ để $|g(x) – M| < \frac{\epsilon}{2}$ khi $0 < |x – x_0| < \delta_2$.

Chọn $\delta = \min(\delta_1, \delta_2)$. Khi đó với $0 < |x – x_0| < \delta$:

$$|f(x) – g(x) – (L – M)| < \frac{\epsilon}{2} + \frac{\epsilon}{2} = \epsilon$$

Chứng minh Giới hạn của Tổng: $\lim_{x \to x_0} [f(x) + g(x)] = L + M$

Cho hai hàm số $f(x)$ và $g(x)$ thỏa mãn:

$$\lim_{x \to x_0} f(x) = L \quad \text{và} \quad \lim_{x \to x_0} g(x) = M$$

Chứng minh:

$$\lim_{x \to x_0} [f(x) + g(x)] = L + M$$

Giải

Cho trước một số $\epsilon > 0$ bất kỳ. Ta cần tìm $\delta > 0$ sao cho nếu $0 < |x – x_0| < \delta$ thì $|(f(x) + g(x)) – (L + M)| < \epsilon$.

Theo giả thiết:

Với $\frac{\epsilon}{2} > 0$, tồn tại $\delta_1 > 0$ để $|f(x) – L| < \frac{\epsilon}{2}$ khi $0 < |x – x_0| < \delta_1$.

Với $\frac{\epsilon}{2} > 0$, tồn tại $\delta_2 > 0$ để $|g(x) – M| < \frac{\epsilon}{2}$ khi $0 < |x – x_0| < \delta_2$.

Chọn $\delta = \min(\delta_1, \delta_2)$. Khi đó, với $0 < |x – x_0| < \delta$, cả hai bất đẳng thức trên đều đúng.

Sử dụng bất đẳng thức tam giác: $|A + B| \leq |A| + |B|$, ta có:$$|(f(x) + g(x)) – (L + M)| = |(f(x) – L) + (g(x) – M)|$$$$\leq |f(x) – L| + |g(x) – M|$$$$< \frac{\epsilon}{2} + \frac{\epsilon}{2} = \epsilon$$

Vậy $\lim_{x \to x_0} [f(x) + g(x)] = L + M$.

HĐ1. Nhận biết khái niệm giới hạn tại một điểm – Trang 111 | SGK Toán 11

HĐ1. Nhận biết khái niệm giới hạn tại một điểm

Cho hàm số $f(x) = \frac{4 – x^2}{x – 2}$.

  • a) Tìm tập xác định của hàm số $f(x)$.
  • b) Cho dãy số $x_n = \frac{2n + 1}{n}$. Rút gọn $f(x_n)$ và tính giới hạn của dãy $(u_n)$ với $u_n = f(x_n)$.
  • c) Với dãy số $(x_n)$ bất kỳ sao cho $x_n \neq 2$ và $x_n \to 2$, tính $f(x_n)$ và tìm $\lim_{n \to +\infty} f(x_n)$.

Giải

a) Tìm tập xác định

Hàm số $f(x) = \frac{4 – x^2}{x – 2}$ xác định khi và chỉ khi mẫu thức khác 0:

$$x – 2 \neq 0 \iff x \neq 2$$

Vậy tập xác định của hàm số là: $D = \mathbb{R} \setminus \{2\}$.

b) Tính giới hạn với dãy số cụ thể $x_n = \frac{2n + 1}{n}$

  • Rút gọn $f(x)$: Với mọi $x \neq 2$, ta có:$$f(x) = \frac{4 – x^2}{x – 2} = \frac{(2 – x)(2 + x)}{x – 2} = \frac{-(x – 2)(x + 2)}{x – 2} = -(x + 2)$$
  • Thay $x_n$ vào $f(x)$:$$u_n = f(x_n) = -(x_n + 2) = -\left( \frac{2n + 1}{n} + 2 \right)$$Rút gọn biểu thức bên trong: $\frac{2n + 1}{n} = 2 + \frac{1}{n}$.Do đó: $u_n = -\left( 2 + \frac{1}{n} + 2 \right) = -\left( 4 + \frac{1}{n} \right) = -4 – \frac{1}{n}$.
  • Tính giới hạn:$$\lim u_n = \lim \left( -4 – \frac{1}{n} \right) = -4 – 0 = \mathbf{-4}$$

c) Tính giới hạn với dãy số $(x_n)$ bất kỳ

Giả sử có dãy số $(x_n)$ bất kỳ thỏa mãn $x_n \neq 2$ và $\lim x_n = 2$.

  • Vì $x_n \neq 2$, ta luôn có: $f(x_n) = -(x_n + 2)$.
  • Áp dụng quy tắc tính giới hạn của dãy số:$$\lim_{n \to +\infty} f(x_n) = \lim_{n \to +\infty} [-(x_n + 2)] = -(\lim x_n + 2) = -(2 + 2) = \mathbf{-4}$$

Kết luận:

Qua hoạt động này, ta thấy dù chọn dãy số nào tiến về 2 thì giá trị hàm số đều tiến về -4.

Ta nói

$\lim_{x \to 2} f(x) = -4$.